Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu (1920–2002) được xem là “ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng”. Thơ ông gắn chặt với từng bước ngoặt của dân tộc: từ ngày đầu giác ngộ lý tưởng, những năm tháng kháng chiến, đến công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và ngày đất nước toàn thắng. Điểm đặc biệt là thơ Tố Hữu không tách rời chính trị, nhưng vẫn thấm đẫm cảm xúc, giàu hình ảnh, giàu tính dân ca, trở thành tiếng nói chung của cộng đồng. https://songmoi247.com/To-Huu
Từ ấy – Lời thề tuổi trẻ
Ra đời năm 1938, khi Tố Hữu mới 18 tuổi và vừa được kết nạp Đảng, bài thơ “Từ ấy” trở thành bản tuyên ngôn thanh xuân.
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chimTôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời
Hình ảnh “mặt trời chân lý” biểu tượng cho ánh sáng lý tưởng cộng sản, soi rọi và làm hồi sinh tâm hồn thi sĩ. Tố Hữu không còn là một cá nhân đơn lẻ, mà gắn đời mình với cộng đồng. Đây là bước ngoặt mở ra cả sự nghiệp thơ, đồng thời là tiếng nói chung của một thế hệ thanh niên đi theo cách mạng.
Việt Bắc – Khúc hát ân tình
Tác phẩm “Việt Bắc” (1954) là bài thơ dài 150 câu, viết trong bối cảnh chia tay Việt Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Ở đây xin trích đoạn mở đầu nổi tiếng:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
Thơ mang âm hưởng ca dao, đối đáp ngọt ngào, diễn tả tình cảm sâu nặng giữa cán bộ kháng chiến và đồng bào Việt Bắc. Không chỉ là chia tay, đây còn là bản tình ca cách mạng, khẳng định sự gắn bó máu thịt giữa nhân dân và kháng chiến.

Lượm – Nụ cười trẻ thơ trong chiến tranh
Bài thơ “Lượm” (1949) kể về một cậu bé liên lạc hy sinh khi làm nhiệm vụ, giản dị nhưng xúc động.
Chú bé loắt choắt
Cái xắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghênh…Cháu đi liên lạc
Vui lắm chú ơi!
Ở đồn Mang Cá
Thích hơn ở nhà!…
Ra thế! Lượm ơi!
Còn không? Còn không?
Cái chết như ngủ
Ngủ say trong bom…
Nhịp thơ hồn nhiên, trong sáng như chính bước chân trẻ nhỏ. Nhưng kết thúc bất ngờ – Lượm hy sinh – khiến người đọc nghẹn ngào. Qua hình ảnh một em bé, Tố Hữu đã khắc họa sức sống bất diệt của lý tưởng và tình yêu quê hương.
Bầm ơi – Tiếng lòng người con xa quê
Một bài thơ ngắn, giản dị nhưng giàu xúc động, viết như lời người con xa quê gửi mẹ.
Con đi trăm núi nghìn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Chia phôi từ ấy xa xăm
Lần đi, bầm đã bao năm tháng ngàyCon đi đánh giặc lâu nay
Chắc bầm ra ngóng, vào trông từng giờ
Mưa phùn ướt áo tứ bề
Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu…
Lời thơ mộc mạc như lời ru, thể hiện tình mẹ con tha thiết trong kháng chiến. Qua đó, Tố Hữu khắc họa vẻ đẹp tình cảm gia đình, làm phong phú thêm chất trữ tình trong dòng thơ chính trị.
Bác ơi – Tiếng khóc của dân tộc
Khi Bác Hồ qua đời (1969), Tố Hữu viết bài thơ “Bác ơi”, như tiếng khóc nghẹn của cả dân tộc.
Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa
Bác ơi! tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người…
Ngôn ngữ giản dị, hình ảnh “trời tuôn mưa” hòa cùng nước mắt con người, thể hiện sự mất mát lớn lao. Tố Hữu đã biến nỗi đau riêng thành nỗi đau chung, tiếng khóc của cả dân tộc.
Viếng lăng Bác – Lời tri ân bất tử
Năm 1976, khi miền Nam thống nhất, Tố Hữu vào lăng viếng Bác và viết bài thơ nổi tiếng này.
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…
Hình ảnh ẩn dụ “mặt trời” vừa là thiên nhiên, vừa là biểu tượng của Bác Hồ – nguồn sáng bất diệt của dân tộc. Bài thơ ngắn gọn mà giàu biểu tượng, trở thành khúc tri ân bất tử.
Ra trận và Máu và hoa – Khúc tráng ca sử thi
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Tố Hữu viết “Ra trận” (1972) – tiếng gọi hào hùng:
Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai.
Sau khi đất nước thống nhất, ông lại viết “Máu và hoa” (1977), ca ngợi máu xương đã đổ để nở thành hoa chiến thắng. Đây là dấu chấm hết cho một thời kỳ dài thơ kháng chiến, đồng thời mở ra suy tư về con đường mới.
Hai tập thơ mang đậm âm hưởng sử thi, hùng tráng, khẳng định thơ Tố Hữu luôn song hành cùng những bước ngoặt lịch sử của dân tộc.
Giá trị trường tồn
Nhìn lại hành trình thơ Tố Hữu, ta thấy rõ sự kết hợp độc đáo giữa chính trị và trữ tình, giữa cái chung và cái riêng. Ông đã biến những sự kiện lịch sử khốc liệt thành những câu thơ chan chứa tình người, tình quê, tình dân tộc.
Ngày nay, khi đọc lại Từ ấy, Việt Bắc, Lượm, Bầm ơi, Bác ơi, Viếng lăng Bác…, ta vẫn cảm nhận được hơi thở nóng hổi của lịch sử và ngọn lửa tình cảm nồng nàn. Đó chính là lý do Tố Hữu xứng đáng được tôn vinh là “ngọn cờ đầu” của thơ ca cách mạng Việt Nam.
Các bạn có thể đọc thêm thông tin tại: https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/to-huu-cay-dai-thu-trong-lang-tho-cach-mang-viet-nam-639807











































Discussion about this post